đề tài đánh giá hiệu quả sản xuất lúa

Khóa luận giỏi nghiệp: Đánh giá kết quả tài chính vào tiếp tế lúa trên địa bàn buôn bản Đông Xuân, thị trấn Đông Hưng, tỉnh Thái Bình


Bạn đang xem: đề tài đánh giá hiệu quả sản xuất lúa

*
DownloadVui lòng sở hữu xuống để thấy tư liệu đầy đủ

Khóa luận hướng đến kim chỉ nam nghiên cứu: Phân tích thực trạng cùng reviews công dụng kinh tế vào chế tạo lúa của các hộ dân cày tự đó đề xuất các chiến thuật cải thiện hiệu quả kinh tế tài chính sản xuất lúa đóng góp phần cải thiện các khoản thu nhập cho những người dân bên trên địa bàn buôn bản Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Mời các bạn thuộc tham khảo.




Xem thêm: Cách Làm Món Chè Khúc Bạch, Cách Làm Chè Khúc Bạch Thơm Ngon Khó Cưỡng

*

Nội dung Text: Khóa luận xuất sắc nghiệp: Đánh giá tác dụng kinh tế trong chế tạo lúa bên trên địa phận thôn Đông Xuân, thị xã Đông Hưng, tỉnh Thái Bình


Xem thêm: Những Động Từ Trong Câu (Verbs), Động Từ Trong Tiếng Anh

HỌC VỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ­­­­­­­  ­­­­­­­ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN XàĐÔNG XUÂN, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH Sinh Viên Thực Hiện : Đặng Thị Kkhô cứng Lớp : PTNTC – K56 Chuyên Ngành : PTNT Niên Khóa : 2011 – 2015 Giảng Viên Hướng Dẫn : ThS. Giang HươngHÀ NỘI, NĂM 2015 ii LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách độc lập. Các số liệu thu thập được là các tài liệu được sự cho phép công ba của các đơn vị cung cấp số liệu. Các tài liệu tham khảo đều tất cả nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả được nêu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất kì tài liệu làm sao. Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm năm ngoái Sinh viên Đặng Thị Khanh hao i LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan trung tâm, giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế & PTNT– Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp. Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn đến cô giáo ThS. Hương Giang và các thầy cô trong bộ môn phân tích định lượng đã tận tình hướng dẫn với giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Đông Xuân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này. Cuối thuộc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn btrần, đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, rèn luyện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015 Sinh viên thực hiện nay Đặng Thị Kkhô giòn ii MỤC LỤCLỜI CẢM ƠN........................................ii 2.1.3 Vai trò cùng đặc điểm của cây lúa:..........13 a. điểm lưu ý sinc học tập............................ 15 Thừa Thiên Huế.................................. 29 Huyện Quảng Điền, tỉnh TT Huế...................30 iii DANH MỤC BẢNGBảng 2.1 Diện tích cùng sản lượng lúa của nước ta năm2012 - năm trước.......................................29Bảng 3.1 Tình hình khu đất đai cùng sử dụng đất đai tại xãĐông Xuân qua 3 năm 2012 - 2014...................30Bảng 3.2 Tình hình nhân khẩu cùng lao rượu cồn trên buôn bản ĐôngXuân qua 3 thời điểm năm 2012 – năm trước........................31Bảng 4.1 Diện tích các nhiều loại cây trồng hầu hết ở xãĐông Xuân qua 3 năm 2012 – năm trước...................37Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của xãĐông Xuân tiến độ 2012-năm trước.....................38Bảng 4.3 đặc điểm phổ biến của những hộ điều tra.......41Bảng 4.4 Khối lượng đầu tư giống trong cung ứng lúa..................................................42(tính trung bình cho một sào)........................42Bảng 4.5 Nguồn cung cấp tương đương lúa trên địa bàn xãĐông Xuân.........................................43Bảng 4.6 Kăn năn lượng phân bón trong tiếp tế lúa...46(tính bình quân cho 1 sào)........................46Bảng 4.7 Đầu bốn công đến phân phối 1 sào lúa của cáchộ điều tra.......................................49Bảng 4.8 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của cáchộ điều tra theo .................................51quy mô............................................51Bảng 4.9 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của cáchộ khảo sát theo như thể lúa........................51Bảng 4.10 Diện tích, năng suất, sản lượng của hộtheo mật độ hướng dẫn..............................52Bảng 4.11 tình hình đầu tư ngân sách đến chế tạo lúatheo giống lúa của những hộ điều tra(tính bình quâncho một sào)........................................55Bảng 4.12 tình trạng chi tiêu chi phí cho cấp dưỡng lúatheo đồ sộ của các hộ khảo sát (tính trung bình cho1 sào)............................................53Bảng 4.13 Tình hình đầu tư chi tiêu chi phí cho cung ứng lúatheo cường độ tập huấn của các hộ điều tra(tính bìnhquân cho một sào)...................................55Bảng 4.14 Hiệu trái kinh tế vào chế tạo lúa củanhững hộ điều tra theo quy mô(tính bình quân cho 1 sàolúa)..............................................59 ivBảng 4.15 Hiệu quả tài chính thêm vào lúa của các hộkhảo sát theo tương đương lúa(tính trung bình cho một sàolúa)..............................................61Bảng 4.16 Hiệu quả kinh tế tài chính tiếp tế lúa của các hộdân cày theo chuyên môn kỹ thuật(tính bình quân đến 1sào lúa)..........................................62 v DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊBiểu trang bị 4.1: Khối lượng chi tiêu kiểu như trong sản xuấtlúa...............................................43Biểu đồ gia dụng 4.2: Nguồn cung ứng giống lúa theo quy mô. 44Biểu thứ 4.3: Nguồn hỗ trợ tương đương lúa theo nút độtập huấn..........................................45Sơ đồ gia dụng 4.1 Kênh tiêu thú lúa của các hộ khảo sát xãĐông Xuân.........................................57 vi DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮTNXB Nhà xuất bảnWTO Tổ chức thương mại thế giớiFAO Tổ chức lương thực thế giớiTT Huế Thừa Thiên HuếĐX Đông xuânHT Hè thuHTX Hợp tác xãĐVT Đơn vị tínhTSCĐ Tài sản cố địnhQM bé dại Quy mô nhỏQM TB Quy mô trung bìnhQM mập Quy mô lớnBQ Bình quânTH Tập huấnKTH Không tập huấnBVTV Bảo vệ thực vậtGO Tổng giá trị sản xuấtIC Chi phí trung gianVA Giá trị gia tăngXiaoMi MI Thu nhập hỗn hợpLĐGD Lao động gia đình vii TÓM TẮT KHÓA LUẬN Đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình” Đông Xuân là một xã nằm ở phía nam của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Tổng diện tích đất tự nhiên năm 2014 của xã là 563,72 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 310,47 ha, đất trồng lúa là 181,15ha chiếm phần 58,35% diện tích đất nông nghiệp. Với dân số là 11428 tín đồ. Với hơn 70% lao động là lao động nông nghiệp và diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp đề xuất các cấp lãnh đạo cùng nông dân trong xã rất quan tâm tới việc áp dụng tiến cỗ kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng cao kết quả sản xuất của ngành nông nghiệp. Điển hình là sản xuất lúa gạo. Lúa gạo là một thức ăn chính của người dân châu á và cũng là bảo vệ an ninh lương thực cho cả vùng, cả đất nước. Chính vì thế mà các cấp lãnh đạo đã hỗ trợ chi phí đầu vào cho các hộ nông dân sản xuất lúa, đồng thời khuyến khích các hộ sản xuất theo kỹ thuật tiên tiến để có được năng suất và chất lượng cao. Xuất phát trường đoản cú thực tiễn trên công ty chúng tôi thực hiện thực hiền khô đề tài:“Đánh giá hiệu trái kinh tế trong sản xuất lúa trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”. Với những mục tiêu cụ thể như sau: ­ Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa; ­ Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; viii ­ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; ­ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của hộ nông dân trên địa bàn làng.Sau khi nghiên cứu chúng tôi thu được một số kết quả sau: Nghiên cứu kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa, xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu trái sản xuất lúa của một số nông hộ ở các thôn thuộc xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình nhằm đánh giá tình hình sản xuất lúa ở các nông hộ trên địa bàn và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lúa của các nông hộ. Qua kết quả hồi quy, có thể thấy rằng các yếu tố đầu vào đều hình ảnh hưởng đến năng suất lúa thu được. Trong đó, yếu tố giống và phân bón ảnh hưởng tiêu cực đến năng xuất, chi phí cho hai yếu tố này khá là cao. Do kia, nếu hộ nông dân tăng (giảm) mức đầu bốn các yếu tố đầu vào hợp lý thì năng suất không ngừng tăng lên. Thông qua đề tài này tôi hy vọng bên nướ c, cơ quan ban ngành địa phương có những biện pháp triển knhì, thực hiện kịp thời; ch ủ động đối phó với diễn biến thất thường của th ời tiết trong năm, giảm chi phí đầu vào, hỗ trợ người dân trong sản xuất và tiêu trúc lúa nhằm có đượ c năng suất và chất lượng cao, ổn định. ix PHẦN I: MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong xu cố hội nhập kinh tế quốc tế, dưới tác động của cạnh tnhãi, ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam cần phải nhanh chóng đạt đến trình độ sản xuất cao, sử dụng hiệu quả thành tựu mới của khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng và giảm giá thành. Vì lẽ kia, thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng nông sản luôn là phương châm chiến lược của nước ta trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng. Chính vì vây, việc nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu mới nhất về sản xuất lương thực đã và đang được Chính phủ quan tâm đầu bốn Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội ­ Hải Phòng ­ Quảng Ninc. Trong những năm gần phía trên, Thái Bình đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp nhẹ nhỏng dệt may, da giầy, thực phẩm… tập trung cao độ cho phát triển công nghiệp, dịch vụ nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Nhưng với truyền thống và điều kiện tự nhiên thuận lợi, nông nghiệp vẫn được coi là ngành quan trọng và chiếm tỷ lệ 37% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh giấc, với 90% số dân sống làm việc nông xã, 70% số lao động trên đồng ruộng, đặc biệt cả tỉnh có đến hơn 83.000 ha đất canh tác lúa (Phạm Tô Minh Hùng, 2010).Với mục tiêu đến năm 2020 trngơi nghỉ thành tỉnh nông thôn mới, có nền nông nghiệp theo hướng hiện đại. Thái Bình đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp như cải thiện cơ sở hạ tầng nông buôn bản, cơ giới hóa 1nông nghiệp, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu giống cây tdragon, vật nuôi, khắc phục diễn biến phức tạp của thời tiết, phòng chống dịch bệnh… Trong đó, phòng chống dịch bệnh là một trong những vấn đề được các cấp chính quyền đặc biệt quan trung tâm, và tích cực chỉ đạo từ công tác tuyên truyền đến bám sát đồng ruộng khi dịch bệnh xảy ra. Xã Đông Xuân là một xã thuộc huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, có các điều kiện tương đối thuận lợi cho phát triển cây nông nghiệp . Ở đây lúa trở thành cây trồng phổ biến và thực tế cho thấy ngoài đi làm thêm thì họ vẫn phụ thuộc vào trồng lúa là chủ yếu hèn. Bên cạnh đó vẫn còn nhiều người nông dân không dám mạnh dạn đầu tư cho sản xuất lúa đồng thời trong sản xuất lúa gặp nhiều rủi ro như thời ngày tiết, giá cả bấp bênh ko ổn định hay không có thời gian để đầu bốn, chăm sóc nên hiệu trái kinh tế chưa cao so với mong mong mỏi, sự phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của địa phương. Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”1.2 Mục tiêu nghiên cứu1.2.1 Mục tiêu phổ biến Phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa của các hộ nông dân từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa góp phần nâng cao thu nhập cho người dân trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.1.2.2 Mục tiêu cụ thể ­ Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa; 2 ­ Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; ­ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; ­ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu trái kinh tế sản xuất lúa của hộ nông dân trên địa bàn buôn bản.1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu1.3.1 Đối tượng nghiên cứu giúp Các hộ nông dân trồng lúa trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân xóm Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình1.3.2 Phạm vi nghiên cứu1.3.2.1 Phạm vi nội dung Đề tài tập trung đánh giá hiệu trái kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình 1.3.2.2 Phạm vi về không gian Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình1.3.2.3 Phạm vi về thời gian Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập giai đoạn 2012­2014 và số liệu điều tra các hộ sản xuất lúa năm năm trước. Thời gian thực hiện đề tài 1/2015­ 6/20151.4 Câu hỏi nghiên cứu giúp 3 ­ Tình hình sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã Đông Xuân như thế nào? ­ Hiệu trái kinh tế trong sản xuất lúa của các hộ nông dân trên đĩa bàn xã như thế nào? ­ Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sản xuất lúa ? Sự tác động của các yếu tố đó như thế nào? ­ Làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn xã trong thời gian tới? PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN2.1 Cơ sở lý luận2.1.1 Khái niệm và quan điểm về hiệu quả kinh tếa) Khái niệm Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, nó phản ánh mặt chất lượng hoạt động sản xuất kinh tế và là đặc trưng của mọi nền sản xuất xóm hội. Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra với phần giá trị các yếu tố nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó được xét về cáo sánh tương đối và tuyệt đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó. (Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình, Trần Văn Đức, Quyền Đình Hà, 1997)b) Các quan điểm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau, hiện nay có 2 quan điểm cùng tồn tại. ­ Quan điểm truyền thống: quan điểm này cho rằng hiệu quả kinh tế là phần còn lại của hiệu quả sản xuất kinh doanh sau khi trừ đi chi phí tổn 4bỏ ra, được đo bằng các chỉ tiêu lợi nhuận hay chỉ tiêu lãi. Các tác trả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem nlỗi là Xác Suất giữa kết quả sản xuất thu được với chi phí bỏ ra, hay là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu cho biết mức sinh lời của đồng vốn, được tính toán sau chu kỳ sản xuất hay một quá trình sản xuất. Quan điểm này xác định hiệu quả sản xuất trong trạng thái tĩnh, sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu trái là chỉ tiêu không chỉ cho phép hiệu trái đầu tư mà còn giúp đến người sản xuất kinh doanh có nên đầu bốn và đầu tư đến mức độ nào là có lợi nhất. Như vậy quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi xác định thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh, vì thế việc tính toán hiệu quả kinh tế thường chưa thể đầy đủ và chính xác. Bởi bởi vì, các hoạt động đầu tứ và phát triển lại có những tác động không những đơn thuần về mặt kinh tế mà còn về cả mặt xã hội và môi ngôi trường, có hầu như khoản thu và những khoản chi không thể lượng giá được, vì thế không thể hiện được mỗi khi sử dụng cách tính này. ­ Quan điểm của các nhà kinh tế tân truyền thống nlỗi Lyn squire, herman G.Van Dertak cho rằng hiệu quả kinh t ế ph ải được xem xét trong trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Nhân tố thời gian rất quan trọng trong tính toán hiệu trái kinh tế, dùng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế nhằm xem xét các quyết định cả trước và sau khi đầu tư sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh tế không chỉ bao gồm hiệu quả tài chính đơn thuần mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và hiệu trái môi trường. Vì vậy khái niệm thu và chi trong quan điểm tân cổ điển được gọi là lợi ích và chi giá tiền. * Xét theo mối quan hệ động giữa đầu vào và đầu ra, một số tác giả đã phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu trái kinh tế, hiệu trái kỹ thuật và hiệu 5quả phân bổ các nguồn lực.(Đại học kinh tế quốc dân, 1997, Kinh tế học phát triển, NXB Thống kê) Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm thu trên một đơn vị đầu vào đầu tư thêm. Nó được đo bằng tỷ số giữa số lượng sản phẩm tăng thêm trên đưa ra phí tăng thêm. Tỷ số này gọi là sản phẩm biên, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phđộ ẩm. Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mọt quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân quyết định sản xuất. Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của kết quả phân té là hiệu trái kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra. Vì cầm nó còn được gọi là hiệu quả giá. Việc xác định hiệu quả này giống nhỏng xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận, có nghĩa là giá trị sản phẩm biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất. Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân xẻ. Điều này có nghĩa là cả hai yếu tố về hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật tuyệt hiệu trái phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ cho hiệu trái kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu trái phân ngã khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế. 6 * Xét theo yếu tố thời gian trong hiệu quả: các học giả kinh tế tân cổ điển đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả, cùng đầu tư sản xuất kinh doanh với một lượng vốn nhỏng nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có hiệu quả khác nhau bởi thời gian bỏ vốn đầu tư không giống nhau thì thời gian thu hồi vốn khác nhau. Tuy nhiên, để hiểu được thế nào là hiệu quả kinh tế cần phải tách việc đồng nhất kết quả và hiệu quả kinh tế, đồng nhất giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu trái kinh tế hoặc quan niệm cũ về hiệu trái kinh tế đã lạc hậu không phù hợp với hoạt động kinh tế theo cơ chế Thị Phần. Cách xem xét này, hiện nay có nhiều ý kiến thống nhất cùng nhau, có thể khái quát như sau: Thđọng tốt nhất, kết quả kinh tế và hiệu quả kinh tế là hai khái niệm trả toàn khác nhau về hình thức, hiệu quả kinh tế là một phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí vứt ra và kết trái thu được. Còn kết quả kinh tế chỉ là một trong mối tương quan kia, là một trong những yếu tố xác định hiệu quả mà thôi. Hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức sản xuất cũng như của nền kinh tế quốc dân để đưa đến kết quả là khối lượng sản phẩm hàng hóa tạo ra, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu bán hàng. Nhưng kết quả này chưa nói lên được nó được tạo nên bằng cách nào? Bằng phương tiện gì? Chi phí là bao nhiêu? Như vậy, không phản ánh được trình độ sản xuất phải đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí các nguồn lực khác. Với nguồn lực có hạn, phải tạo ra kết quả sản xuất càng cao và tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội, chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân. Thứ hai, cần phân biệt giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế vừa là phạm trù trừu tượng vừa là 7phạm trù ví dụ. Hiệu quả kinh tế là phạm trù trừu tượng vì nó phản ánh trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh của các tổ chức sản xuất, của nền kinh tế quốc dân. Các yếu tố cấu thành của nó là kết quả sản xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trưng gắn liền với quan hệ sản xuất của xã hội. Hiệu quả kinh tế Chịu đựng ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ luật pháp trong quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ sở và thượng tần kiến trúc. Với nghĩa này thì hiệu quả kinh tế phản ánh toàn diện sự phát triển của tổ chức sản xuất, của nền sản xuất xã hội. Tính trừu tượng của phạm trù hiệu quả kinh tế thể hiện ở trình độ sản xuất, quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của tổ chức sản xuất để đạt được mục tiêu, kết quả cao nhất ở đầu ra. Hiệu trái kinh tế là phạm trù cụ thể vì hiệu trái kinh tế có thể đo lường thông qua mối quan hệ bằng lượng giữa kết trái sản xuất với đưa ra phí bỏ ra. Đương nhiên, không thể có một chỉ tiêu tổng hợp nào để phản bội ánh được đầy đủ các khía cạnh của hiệu quả kinh tế. Thông qua các chỉ tiêu thống kê kế toán nhằm có thể xác định hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu trái kinh tế, mỗi chỉ tiêu được phản ánh một khía cạnh nào đó của hiệu quả kinh tế trên phạm vi nào đó được tính tân oán. Hệ thống chỉ tiêu này quan lại hệ với nhau theo thứ bậc từ chỉ tiêu tổng hợp, sau đó đến các chỉ tiêu phản ánh riêng lẻ của quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng tổng hợp của quá trình sản xuất kinh doanh, nó bao gồm hai mặt định tính và định lượng. Về mặt định lượng, hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội, biểu hiện giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, bạn ta thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại. 8 Về mặt đính tính, tức là hiệu quả kinh tế cao phản ánh sự cố gắng nỗ lực trong mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống sản xuất, phản ánh trình độ, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị. Hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của hệ thống kết trái kinh tế, nó có quan hệ mật thiết với nhau. Thđọng tía, phải có quan niệm về hiệu quả kinh tế phù hợp với hoạt động kinh tế theo phép tắc thị trường có sựu quản lý của nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước phía trên, khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp hoạt động của các tổ chức sản xuất kinh doanh được đánh giá bằng mức độ hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh do Nhà nước giao như giá trị sản lượng hàng hóa, khối lượng sản phẩm đa phần, doanh thu bán hàng, chỉ tiêu nộp ngân sách. Thực hóa học, đây chỉ là chỉ tiêu kết trái, không thể hiện được mối quan hệ so sánh với chi phí bỏ ra. Mặt khác, giá cả sản phẩm hóa trong gia đoạn này mang tính hình thức không phán ánh được trình độ sản xuất và quản lý của các tổ chức sản xuất kinh doanh nói riêng và nền sản xuất xã hội nói tầm thường. Khi chuyển sang nền kinh tế Thị Phần, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý bằng chính sách vĩ mô, thông qua các công cụ là hệ thống luật pháp hành chủ yếu, luật kinh tế, luật doanh nghiệp. Nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn xã hội, các tổ chức sản xuất khiếp doanh là chủ thể sản xuất ra sản phẩm hàng hóa là pháp nhân kinh tế bình đẳng trước pháp luật pháp. Mục tiêu của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế không những thu được lợi nhuận tối đa mà còn phải phù hợp với hầu như yêu cầu của xã hội theo những chuẩn mực mà Đảng và Nhà nước quy định gắn liền với lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích xã hội (Phạm Văn Hùng, 2011). 9

Chuyên mục: Kiến thức